Một số âm cuối quen thuộc người Việt thường phát âm sai

Tiếng Anh - Mỹ có nhiều từ có âm cuối là phụ âm hữu thanh. Nhiều người Việt Nam gặp khó khăn khi phát âm những âm này. Bài viết đưa ra những âm phổ biến mà người Việt gặp khó và các bài luyện tập tương ứng nhằm hạn chế lỗi phát âm cơ bản này.

Dưới đây là một số nguyên tắc và bài luyện tập liên quan đến âm cuối là phụ âm hữu thanh.

1. Âm /z/

Chữ /s/ đứng ở cuối từ sẽ được phát âm là /z/ nếu đứng trước nó là một nguyên âm hữu thanh. Khi luyện tập, bạn hãy đặt tay lên dây thanh quản ở cổ, nếu bạn cảm nhận được độ rung rõ ràng thì đang phát âm /z/ chính xác.

Ví dụ: kids, ideas, policies, homes, brags.

Luyện đọc trong câu:

- Do you have any kids?

- Let’s discuss your ideas.

- We have some new policies.

- John has two homes.

- He brags about his homes.

mot-so-am-cuoi-quen-thuoc-nguoi-viet-thuong-phat-am-sai

Ảnh minh họa: FluentU

2. Âm /d/

Âm /d/ thường xuyên xuất hiện ở cuối từ trong tiếng Anh Mỹ, là một âm hữu thanh. Khi phát âm cuối /d/ bạn cần đặt tay lên cổ để cảm nhận độ rung, nếu bạn muốn người Mỹ nghe thấy âm này một cách rõ ràng.

Trong các động từ ở dạng quá khứ, chữ “ed” được phát là âm /d/ nếu nó đứng sau một âm hữu thanh (và không phải âm /d/), ví dụ: loved (sau âm “v”), moved (sau âm “u”)…

Ví dụ: need, made, loved, moved, old. 

Luyện đọc trong câu:

- We need to make changes.

- We already made the changes.

- I loved the changes.

- We moved to new offices.

- Our old offices were in bad shape.

3. Âm /v/

Tiếng Việt không có âm /v/ đứng cuối, do đó, các từ âm cuối là “v” thường được Việt hóa thành âm /p/. Ví dụ, “save” đọc thành “sếp”, hay “love” đọc thành “lớp”.

Để làm âm /v/ bạn lấy răng cửa trên chạm nhẹ vào môi dưới, cảm nhận độ rung ở cổ họng. Ví dụ:

Ví dụ: save, active, love, serve, leave.

Luyện đọc trong câu:

- Did you save a copy?

- It’s important to stay active.

- I love to stay active.

- What type of clients do you serve?

- Do you need to leave?

4. Âm /n/

Hầu hết người Việt không nghĩ mình gặp vấn đề với âm /n/ đứng cuối, vì trong tiếng Việt cũng có những từ tương tự, “nón” chẳng hạn. Tuy nhiên, có một sự khác biệt căn bản khi người Việt và người Mỹ phát âm cuối “n”. Trong khi người Việt thường làm âm “n” tương đối ngắn gọn (bạn nói thử “ngắn” xem sao, bạn không kéo dài âm “n” ở cuối phải không?) thì người Mỹ có xu hướng kéo dài âm “n” thêm một chút.

Ví dụ: win, known, phone, main, remain. 

Luyện đọc trong câu:

- Did you win?

- The winner is still unknown.

- Where’s your phone?

- I live on Main Street.

- Please remain at home. 

Với những bạn bị ngọng l, n, và không chắc mình đang phát âm /n/ hay âm /l/, hãy đặt tay lên mũi và phát âm /n/. Nếu bạn thấy cánh mũi mình rung thì bạn đang phát âm chính xác.

Trên thực tế, có rất nhiều âm cuối khác mà người Việt gặp khó khăn khi phát âm. Điển hình là âm cuối “th” hay âm gió (sibilant sounds). Trong phạm vi bài viết, người viết chỉ đề cập tới 4 âm cơ bản và quen thuộc với người Việt, nhưng thường bị phát âm sai.

Quang Nguyen

Nguồn: vnexpress.net